I-tube: I would be the piano in my next life:-)

12.11.12

Adorno (10 - hết)

Tóm tắt những điểm chính

Phần thực hành đã giúp chúng ta lĩnh hội những nội dung chính của chương này, tới đây tôi sẽ tóm lược những đóng góp của Adorno và Horkheimer trong đó nhấn mạnh tới tầm quan trọng về mặt phương pháp. Đặt Adorno bên cạnh trường phái Arnold/Leavise, có thể thấy giữa họ những điểm chung về phương pháp luận:

* Giống như Arnold/Leavise, Adorno cũng liên hệ những loại hình văn hóa với hoàn cảnh lịch sử và nền văn hóa công nghiệp đại chúng, những lí thuyết của ông đề cao tầm quan trọng và sự vượt trội của những nghệ phẩm đích thực và cao siêu mà theo ông có thể làm thay đổi xã hội một cách tốt đẹp hơn.

* Rõ ràng, lý thuyết phê phán này đòi hỏi sự phân biệt [văn hóa đỉnh cao/văn hóa bình dân] và có thể được nhìn nhận trên phương diện trau dồi nhận thức phê phán.

* Văn hóa phổ thông (sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa) được phân tích, đánh giá và được hiểu một cách tiêu cực như là những công thức và có tính khả đoán.

* Sự kháng cự [chống lại nền công nghiệp văn hóa] và sự tỉnh thức là những yếu tố trọng tâm trong cách thực hành lý thuyết phê phán của Adorno.

* Vai trò quyết định đối với các giá trị văn hóa vẫn phụ thuộc vào thiểu số - trong trường hợp Adorno, là giới trí thức Marxist.

Những đóng góp của Trường Franfurt đi xa hơn những vị tiền bối bằng vào cách thức như sau:

* Qua việc kết hợp chủ nghĩa Marx với thuyết phân tâm của Freud, cho rằng quần chúng không phải là mối đe dọa đối với nền văn minh mà [ngược lại] bị 'man di hóa' bởi nền công nghiệp văn hóa - như những nạn nhân bị tước quyền, bị chi phối và phi chính trị hóa.

* Nghệ thuật đích thực/đỉnh cao không phải tự nhiên được khuếch tán xuống đám đông bằng việc quần chúng được 'văn minh hóa', mà nó khuyến khích họ dám thách thức cái hệ thống hiện hành mà nền công nghiệp văn hóa dựa vào đó để sinh tồn.

* Thảo luận về văn hóa của Trường Frankfurt không phải là đi ra ngoài chính trị; trên thực tế, khác hoàn toàn với tiếp cận của nhà Leavise, trường phái Frankfurt mang tính chính trị tự thân. Nền công nghiệp văn hóa là một lũng đoạn về mặt chính trị bởi vì nó làm giàu cho bọn tư bản công nghiệp và bóc lột, áp chế và bần cùng hóa cuộc sống của giai cấp vô sản[akak, Marx quá]

* Adorno mở rộng sự phê phán của mình bằng việc quy kết cho lý tính Khai sáng: tư tưởng Khai sáng, thay vì hiện thực hóa những ước mơ nhân bản, rốt cục lại lai dắt đến chế độ toàn trị phát xít và những trại giết người.

Cảnh báo sự hiểu đơn giản hóa

Nếu các em đọc các phần viết về phương pháp luận trong những mục tóm tắt của cuốn sách này, các em có thể thấy là tôi lưu ý rằng lịch sử của lý thuyết phê phán văn hóa là một chuỗi những bước chuyển nhịp nhàng của một trường phái phân tích văn hóa đã được khởi đi một cách mạch lạc. Sự suy diễn đơn giản là cái nên tránh.

Rất nhiều thuyết phê phán văn hóa hiện thời đã phê bình quan điểm cho rằng lịch sử là một quá trình tiến bộ đơn giản của các sự kiện và các ghi chép. Câu hỏi về tính liên tục là một câu hỏi phức tạp bởi vì một mặt tự bản thân các vị học giả chịu ảnh hưởng lẫn nhau (ví dụ như nhà Levise tham khảo Arnold, Adorno chịu ảnh hưởng bởi Marx và Freud), mặt khác thì sự kiến tạo lịch sử, các luồng tư tưởng, các phong trào v.v... đều là kết quả của hàng loạt lựa chọn, nối kết với những cách thức tiến hành và tri nhận về các hiện tượng khác nhau. Như Stuart Hall từng viết, 'đối với các nghiên cứu tri thức phê phán nghiêm túc, không có cái gọi là 'sự bắt đầu tuyệt đối' mà hiếm có những tiếp nối liên tục mà không đứt gãy', ngành nghiên cứu văn hóa nảy sinh từ 'những đứt gãy quan trọng - khi mà những luồng tư tưởng cũ bị phá sản, những tinh hoa già cỗi bị thay thế, và những yếu tố - cũ  và mới - được tái hợp xung quanh một hệ thống giả thuyết và chủ đề mới' (Stuart Hall [1980] trong Munns và Rajan, A Cultural Studies Reader: History, Theory, Practice, 1995: 195). Chương 14 của cuốn sách này sẽ thảo luận sâu hơn về nghiên cứu văn hóa và căn tính. 
[ ... ]

11.11.12

Adorno (9)

Thực hành 2: Đánh giá phân tích

Sau khi các em đã làm xong bài thực hành số 1, các em hãy đánh giá việc phân tích của mình, xem xét những thế mạnh và hạn chế của góc độ tiếp cận đối tượng. Một số câu hỏi dưới đây giúp đánh giá việc sử dụng phương pháp này:

* Theo em thì những ngụ ý đằng sau tiếp cận này là gì?
* Theo em thì phương pháp tư duy này hữu ích như thế nào?
* Các ý tưởng này có thể áp dụng vào thực tế hiện thời ra sao?
* Sau khi phân tích những điểm mình quan tâm, em có phản đối một số kết luận của Adorno đưa ra hay không?
* Nếu em nhận thấy có những điểm yếu trong cách tiếp cận này, em sẽ chỉ ra như thế nào?

Ghi chú thực hành: Đưa Rap vào jazz - Món thời trang quanh năm [Perennial Fashion - cũng là tên một bài viết của Adorno. Chữ perennial lần trước dịch là vĩnh cửu, thực ra nên dịch là 'quanh năm' với nghĩa khi nào cũng có; tương tự như 'annual flowers' là những bông có vào một mùa hàng năm so với 'perennial flowers' là những bông có thể nở hoa và tươi tốt quanh năm đó bạn thân mến ơi]

Trong phần này tôi sẽ không trả lời câu hỏi tôi nêu ra ở trên, nhưng thông qua một bài phê bình bằng thơ, tôi sẽ gợi ý một số cách xem xét các ý tưởng có thể hữu ích cho các em. Ở đây, vì tôi đã dùng hip-hop như trong bài thực hành số 1, tôi sẽ viết thêm một đoạn rap ngắn và đặt mình vào vị trí của một rapper để diễn đạt sự phê phán nhưng với thái độ trân trọng cái phương pháp mà chúng ta đang tìm hiểu. Các em có thể kéo dài bài rap này hoặc viết lại nó, áp dụng cho một loại hình văn hóa đại chúng khác. Em sẽ nhận thấy đây là cách hiệu quả để ghi nhớ những khái niệm cơ bản cũng như thái độ của chúng ta đối với chúng. Kỹ thuật này tỏ ra hữu ích trong kỳ thi đấy. Thử nhá.

[bài rap dưới đây được dịch word by word]


Đưa Rap vào Jazz - Món Thời trang Quanh năm


Bẩm cụ Adorno, luận án của cụ về văn hóa đại chúng
tôi đã đọc và đang lúng túng
Có vài điểm tôi cho rằng cụ đúng
khi nói về thương mại hóa nhạc jazz.
Tôi tin rằng người nào cũng nhận ra
nó là nạn nhân tiếp theo của nền công nghiệp văn hóa.
Nhưng những gì cụ viết về cuộc thiến đại trà
và cuộc tước quyền, thiệt tình là đơn giản quá!
Cụ làm như xã hội tiêu dùng này cụ biết hết?
mọi tác hại từ chính trị, kinh tế
từ tư tưởng đến tâm lý abcd
Có thể nó đúng về phương pháp nhưng chỉ dựa trên giả thiết!

Cuộc chơi này hổng dzui* - cần có thêm xúc cảm!
Chúng tôi đưa rap vào jazz - món thời trang quanh năm!

Jazz có thể là công thức, có thể lặp lại y sì hiện trạng
nhưng nó không đơn giản như cụ thấy rồi cụ phán
Cụ tóm được vài điểm nhưng cụ bỏ lỡ khá nhiều
Cụ có chắc đã nghe hết tất cả mọi điều?
về Armstrong, về Parker, về John Coltrane
về Be-bop, về free jazz, nỡ lòng nào cụ coi tất cả the same?
Cụ hãy xem Miles Davis - người không bao giờ hèn nhát
người đã khiến dân Mỹ gốc Phi tự hào với màu da đen.
Cho dù đầu những năm 60s jazz chỉ là công thức, nhưng nó đã chất chứa những bất đồng
để hiểu về dòng nhạc này cụ phải hiểu về cuộc sống.
Văn hóa jazz đã công khai đương đầu với bọn chính trị, bọn thầy tu
một số đòi đổi thay, số khác kết thúc trong lao tù.

Cuộc chơi này hổng dzui - cần có thêm xúc cảm!
Chúng tôi đưa rap vào jazz - món thời trang quanh năm!

Nào, cụ sẽ nói rằng tất cả họ đều là lũ ngốc bị thiến hoạn?
Những kể khắc tên mình lên vách đá nhà giam?
Trong bọn họ có người mơ một thế giới với hình hài khác
và nhạc jazz là tiếng khóc đòi lại nhân quyền bị tước đoạt.
Với người này đó là một trò vui, với người kia nó là một cuộc khảo sát
Cụ xem này - bọn giáo điều, bọn dấn thân, bọn truyền đạo,

đám tranh đấu hòa bình, đám làm cách mạng, đám Hồi giáo,
lũ công đoàn, lũ nghệ sỹ hài, lũ nhà văn trào phúng,
hội thương gia, hội thơ ca, hội khai phóng,
người mang bao tay bằng lụa, kẻ với nắm đấm sắt.
Những hạng người khác nhau này khiến tôi dè dặt,
có lẽ nào được tóm gọn trong lý thuyết của cụ chăng?


Cuộc chơi này hổng dzui - cần có thêm xúc cảm!
Chúng tôi đưa rap vào jazz - món thời trang quanh năm!


Trong trường hợp các em chưa biết, tôi giải thích thuật ngữ 'def' có nghĩa là hay ho, là cool. Tôi nhắc đến Louis Armstrong, Charlie Parker, John Coltrane và Miles Davis - những người được xem là những nhạc sỹ cách tân trong thời kỳ đó. Cả Be-bop và free jazz đã làm cuộc cách mạng đối với nhạc jazz, lần lượt vào giữa thập niên 40s và cuối 50s đầu 60s. Nếu các em quan tâm về những phong trào này có thể tìm đọc têm trong cuốn Jazz: A History (1993) của Tirro và Jazz in American Culture của Townsend (2000).

[ ... ]

Adorno (7)

Phương pháp của Adorno: mô hình phân tích 'mũi kim tiêm'

Hãy tạm chia tay Holmes và Watson và tiếp tục không cần có họ. Đến giờ, các em có thể nhận thấy nhiều vấn đề cần đặt câu hỏi xoay quanh cách mà Adorno phân tích về văn hóa bình dân đại chúng [từ nay dịch lại chữ popular là phổ thông]. Tuy nhiên, cho dù có nhiều nhà phê bình nhìn ra những điểm đáng phê phán trong các tác phẩm của trường Frankfurt, vẫn có nhiều người nhận thấy giá trị tư tưởng của họ và sự liên hệ với những cuộc tranh luận đương thời về văn hóa bình dân. Thực hành phê phán nền công nghiệp văn hóa của Adorno và Horkheimer có thể được miêu tả như là một mô hình phân tích kiểu 'mũi kim tiêm' [hypoderrmic needle' bởi vì tất cả các dạng của văn hóa đại chúng bình dân đều không thể tránh khỏi việc gây ra hiệu ứng gây mê đối với người tiêu dùng, biến họ trở thành những kẻ phục tùng và yếu đuối về mặt chính trị. Đây cũng có thể vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của lý thuyết này, sẽ được mổ xẻ trong phần thực hành.

Tự khám phá và thực hành

Từ bây giờ, tôi sẽ không chỉ hỏi các em suy nghĩ về những tư tưởng được trình bày mà còn thiếu kế một loạt những biểu đồ khám phá [heuristic] để giúp các em suy nghĩ với những khái niệm mới mà chúng ta sẽ cũng nhau khám phá. Những biều đồ này có tác dụng như là:

- một công cụ thiết kế để giúp các em tự học thông qua thực hành
- một công cụ để khái quát những ý tưởng thông qua việc đặt các câu hỏi cụ thể
- một bộ khái niệm hỗ trợ việc tư duy, suy nghĩ độc lập, diễn dịch, phân tích và nghiên cứu
- một sự trợ giúp để các em tự lập cấu trúc tư duy của mình và thí nghiệm các ý tưởng
- nói ngắn gọn, những biểu đồ tự khám phá này được thiết kế để các em thực hành nghiên cứu văn hóa cho chính mình

Mục đích ở đây là để giúp các em phát triển một sự diễn dịch độc lập nhất định trong giai đoạn đầu nghiên cứu. Các em cần quen với việc tư duy với các khái niệm và có chiến lược đọc, thay vì cứ bị mê mải với những nội dung mình đọc. Một khi các em có được một nhóm các chiến lược, các em có thể test chúng thông qua những chủ đề mà mình quan tâm, để xem cái nào khả thi nhất trong bất kỳ tình huống diễn dịch nào. Điều này cũng sẽ giúp cho các em một vị trí để từ đó tiếp cận với những gì người khác đã viết ra.

Đây là một biểu đồ tự khám phá giúp các em đánh giá và tìm hiểu một số bước cơ bản trong phương pháp phân tích nhạc jazz của Adorno:

* lựa một thể loại văn hóa bình dân

* nhận diện nguồn gốc và bối cảnh văn hóa của nó (Adorno hiểu rằng nhạc jazz có liên hệ với nhạc blues và những ca khúc của người nô lệ)

* nhấn mạnh những quy ước mang tính tiêu chuẩn và khả đoán của nó

* miêu tả những tác động về mặc tâm lý, kinh tế, tư tưởng và chính trị của nó (sử dụng những tư tưởng liên quan đến chủ nghĩa Marx và phân tâm học làm nền tảng):

1. Tác động tâm lý: cái loại hình văn hóa được lựa để phân tích đáp ứng sự thỏa mãn nhất thời và trốn chạy [escapist] nhưng về lâu dài thì nó trống rỗng [empty] và tất yếu dẫn đến sự thất vọng và sự tước quyền (thiến hoạn)

2. Tác động kinh tế: những hứa hẹn liên tục về sự thỏa mãn, cộng với những lời mời gọi mang tính thời trang, nhấn chìm người tiêu thụ vào vòng xoáy tại hại [vicious] của tiêu dùng là cách mà nền công nghiệp văn hóa duy trì và kiếm lời từ văn hóa đại chúng.

3. Tác động tư tưởng: làm nghèo người tiêu dùng về mặt tình cảm và tri thức, và khuyến khích họ tự chấp nhận tình cảnh hiện tại [status quo]

4. Tác động chính trị: gia tăng sự bất bình đẳng của chủ nghĩa tư bản, xoa dịu người tiêu dùng, và trao cho họ sự bất lực về mặt chính trị.

* cuối cùng, các em hãy đặt câu hỏi vì sao cái loại hình văn hóa bình dân mà em lựa đó có thể liên quan đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa toàn trị và những hình thức nguy hiểm của lý tính.

[xem tiếp 8.1]
[ ... ]

Adorno (6)

Man di nữa: trường Franfurt và lý tính Khai sáng

Watson: Quả là một sự đu dây thú vị với khái niệm man di á!

Holmes: Ừa, nhưng man di không dừng lại ở đó. Trong tác phẩm kết hợp giữa Adorno và Horkheimer,  Biện chứng của Khai sáng [The Dialectic of Enlightenment] ([1947] 1972: 125), hai vị không chỉ luận về cái mà họ nhìn nhận như là tính chất tầm thường và tính khả đoán của các hình thức văn hóa đại chúng bình dân mà còn trình bày quan điểm của họ rằng: sự man di là hệ quả từ xu hướng lý tính hóa của Khai sáng.

Watson: (ngạc nhiên) Cái gì? Man di và Khai sáng á? Chứ không phải là nó [Khai sáng] mang lý tính vào thế giới tri thức và đời sống xã hội à?


Holmes: Đúng, nó thường được hiểu như thế. Tuy nhiên, điều đầu tiên cần làm rõ ở đây là cách mà họ [Adorno và Horkheimer] nhìn nhận tư tưởng Khai sáng. Cả hai vị đều liên hệ lý tính Khai sáng với sự trỗi dậy tàn khốc của chủ nghĩa Phát-xít và thảm kịch của cuộc tàn sát người Do Thái [the Holocaust] (hàng loạt người Do Thái bị giết trong những trại tập trung). Hãy xem biện luận của họ như thế nào. Trong tư tưởng Khai sáng, lý tính trở thành một lực lượng áp chế đối với tự nhiên. Lý tính thay thế cho tư duy tín ngưỡng huyễn hoặc (phi-lí tính [non-rational]) và sau đó trở nên thống trị qua quá trình lý tính hóa (áp chế tới mức mà bản thân nó trở thành một loại tín ngưỡng mới). Sự làm chủ tự nhiên một cách lý tính đã dần dần mở rộng sang cả thế giới con người mà giờ đây đã trở thành đối tượng cho sự sự bóc lột khủng khiếp nhất.

Watson: (tỏ ra thất vọng) Oài, lý tính, vậy là, nó đã đi quá xa từ những mơ ước đầy tính nhân bản của các nhà tư tưởng Khai sáng, để trở thành cái vận hành cho những lực lượng toàn trị và vũ trang cho những trại cải tạo giết người phi nhân bản nhất của đế chế Phát-xít ư? Tôi không bao giờ tin được là Khai sáng lại có thể được hiểu theo cách như vầy.

Holmes: Bạn có thể còn ngạc nhiên nữa khi biết rằng Adorno cũng quy kết những sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa với thể chế toàn trị. Ông khẳng định rằng, sự nhấn lệch/đảo nhịp [syncopation] (một cách chơi phổ biến của giai điệu jazz) đạt được cái gọi là 'sự độc tài về âm nhạc' [musical dictatorship] đối với công chúng, theo cách mà nó "gợi nhớ sự soán ngôi của kỹ thuật khi được đặt dưới sự kiểm soát toàn trị phản lý tính [irrational] cho dù bản chất của kỹ thuật là lý tính" (Adorno, 1991: 125-6). Đối với Adorno, thái độ cuồng nhiệt của những người yêu nhạc jazz nhắc nhớ "sự trịnh trọng một cách hung hăng của đám đông những kẻ phò chính thống [đồng thanh hô khẩu hiệu] ở những quốc gia toàn trị - mặc dù có sự khác nhau giữa một bên là giải trí, một bên là chính trị, tương tự như khác nhau giữa sống và chết". Tôi sẽ đọc cho bạn nghe một phần trong tác phẩm của Adorno (đọc một đoạn trích trong cuốn Nền Công nghiệp Văn hóa):

Trong khi giới lãnh đạo ở những quốc gia độc tài châu Âu của cả hai nhánh [quân phiệt và cộng sản] nổi giận với sự suy đồi [decadence] của nhạc jazz, thì giới trẻ ở các quốc gia khác đã từ lâu cho phép mình bị tiêm nhiễm [electrified] bởi jazz, với những bản hành khúc, những bước nhảy đảo nhịp, với những ban nhạc mà một cách ngẫu nhiên không hề xuất thân từ âm nhạc quân đội. Sự phân chia thành những đội xung kích [shock-troops] và những lực lượng ủng hộ rời rạc có lẽ cũng giống như sự phân biệt giữa giới tinh hoa đảng phái với phần dân chúng còn lại. 

Watson: (dựa lưng vào ghế) Vậy thì, theo quan điểm này, khi chúng ta thưởng thức âm nhạc phổ thông mà mình yêu thích có nghĩa là chúng ta một cách không ý thức trở thành đối tượng của những kỹ nghệ vận động nguy hiểm được dùng để chi phối quần chúng!

Holmes: Đúng, theo quan điểm này thì có thể nói là giữa bước nhảy của bạn và bước duyệt binh kiểu Phát xít [Nazi goose step].không khác biệt nhiều lắm. Nhưng thôi, vậy là đủ cho buổi tối hôm nay. Tôi phải tiếp một quý ông người sẽ mang cho tôi một vụ đặc biệt thú vị...

Watson:Bạn Holmes thân mến, đừng nói với tôi là bạn quay trở lại công việc thám tử nhá. Thật là tiếc quá, bạn đúng là một ông thầy tốt....

[Hết phần tám chuyện giữa hai người]


Trợ giúp: Giới thiệu vắn tắt về Khai sáng

Thế kỷ Khai sáng, thường được biết đến như là 'Thời đại Lý tính', gắn liền với những xu hướng tư tưởng mới có ảnh hưởng to lớn từ khoảng giữa thế kỷ 17-18. Đứng lên chống lại những hình thức toàn trị truyền thống, giáo điều của tư tưởng và điều hành xã hội.những tác giả lớn như Voltaire, Diderot, Montesquieu, Locke, Kant và Franklin (và rất nhiều vị khác) cho rằng sự tiến bộ kông tách rời khoa học và đời sống chính trị-xã hội cần phải được đặt trên nền tảng lý tính. Lý tính, soi sáng bởi nhận thức và tư duy khoa học, có vai trò thay đổi thế giới theo hướng tốt đẹp hơn cho con người - bao gồm cả việc lật đổ sự thống trị của cái vô tri, của tôn giáo (thường gắn với mê tín) và chế độ quân chủ [monarchy].

-------- Dạng thức cực đoan nhất của lý tính hóa là chủ nghĩa phát xít đã 'một cách lý tính' tạo ra những trại giết người và thảm sát dân Do Thái và tất cả những kẻ thù của chế độ. Adorno và Horkheimer liên hệ thuyết lí tính Khai sáng với những sự kiện tồi tệ ở nước Đức Quốc xã.------------

[ ... ]

18.10.12

Adorno (5)

Adorno như một dũng sỹ (phe Marxit) của văn hóa đỉnh cao [high culture gladiator]


Holmes: Hãy xem cái bảng này nhé [phần 4], tôi hy vọng nó cho thấy rõ ràng là đối với Adorno và phần lớn đồng bọn của ông thì văn hóa bình dân đại chúng đã bị thiến hoạn như thế nào. Tuy nhiên, có những sự khác biệt đáng kể giữa cách hiểu của ông và cách hiểu của Arnold và nhà Leavis về tác động của văn hóa đại chúng. Theo Adorno, không đáng lo sợ rằng thì là quần chúng sẽ lật đổ cái hệ thống chính trị và trật tự xã hội đang hiện tồn mà ngược lại thì đúng hơn! Họ [quần chúng] được nhìn như là những nạn nhân của nền công nghiệp văn hóa vốn gây mê người tiêu dùng của nó về mặt chính trị và tri thức để họ tự thích ứng với hoàn cảnh sống khốn khổ [lúc này Holmes dùng từ miserable và sợ bạn mình không hiểu, bác tới lui nói hoài]. Sự từ bỏ một cách bị động diễn ra trong xã hội tư bản được văn hóa đại chúng nhân rộng và củng cố thông qua những hoạt động giải trí của nền công nghiệp văn hóa (Adorno và Horkheimer, [1947] 1972: 142).

Watson: Nhưng tôi vẫn lăn tăn. Tôi vẫn thấy sự giống nhau giữa Adorno và [couple] nhà Leavis!

Holmes: Ngoài phương diện chính trị, tôi đồng ý là có nhiều điểm giống nhau giữa họ và các tác giả [vợ chồng Leavis] của Trường phái Văn hóa và Văn minh [Culture and Civilization Tradition]. Adorno là thành viên của một đội quân nhỏ bị bao vây và chiến đấu sinh tử chống lại cái được xem là những lực lượng nguy hiểm của tình trạng man di [barbarism] của văn hóa (đại chúng) hiện đại. Đối với Adorno, Arnold và nhà Leavis, văn hóa/nghệ thuật đỉnh cao có sức mạnh và tính khả dịch: nó có sức mạnh thức tỉnh nhận thức phê phán và mang lại sự thỏa mãn về mỹ học và tri thức một cách thuần thực. Cái phân biệt nó với quan điểm [của trường phái] Văn hóa và Văn minh là thông qua việc cung cấp một tầm nhìn khác cho một tương lai sáng lạn hơn, nó có thể thực sự đánh thức quần chúng nổi loạn chống lại sự lệ thuộc, sự bất công và bất bình đẳng.

ĐƠN GIẢN HÓA: CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Sẽ là sai lầm nếu cho rằng chủ nghĩa phê phán Marxist chỉ có một dạng - mặc dù những người Marxist bị hấp dẫn bởi lý tưởng cách mạng của Marx và Engel. Các chương về E.P. Thompson, Antonio Gramsci và Louis Althusser trong cuốn sách này sẽ nói rõ hơn. Như đã đề cập, những vị đứng cùng một trường phái không nhất thiết đồng ý với nhau về mọi chủ đề. Quan điểm rằng nghệ thuật có thể thúc đẩy mục tiêu cách mạng của chủ nghĩa Marx quy tụ khá nhiều học giả Marxist như Bertholt Brecht và các nhà phê phán đương thời như Jürgen Habermas và Fredric Jameson.

Watson: Thế còn cái gì phân biệt các nghiên cứu của Adorno với trường phái Arnold/Leavis không?

Holmes: Bạn có thể lưu ý rằng Adorno sử dụng thuật ngữ 'man di' [barbarism], nhưng theo một cách không giống với những tác giả trước đó. Phê phán những người nhập nhằng giữa ca khúc bình dân với nghệ thuật hiện đại [modern art], ông viết rằng, những ai 'lẫn lộn một hợp âm gồm 'những nốt nhạc sai' ['dirty notes']* với [lối chơi] vô âm thể [atonality]** thì đã rơi vào tình trạng man di [ý là dốt] (Adorno, 1990:127). Tính man di ở đây không phải nhắm vào thái độ bất tuân của quần chúng mà là sự áp chế về mặt kinh tế [economic tyranny] của nền công nghiệp văn hóa.


Trợ giúp: Adorno, 'dirty notes' và vô âm thể [atonality]

'Dirty notes' trong nhạc jazz là những nốt nhạc đi ra ngoài thang âm [scale] chuẩn và được chờ đợi (đặc biệt là các quãng 3 giáng, quãng 5 giáng và quãng 7 giáng - rất đặc trưng của nhạc blues) [flat thirds, fifths and sevenths]. Vô âm thể, nói một cách giản lược nhất, là khái niệm gắn với tên tuổi các nhà soạn nhạc cổ điển như là Aronld Schönberg. Đó là khi trung tâm điệu thức truyền thống [traditional tone centres] và cấu trúc hòa âm [harrmonic structures] bị loại bỏ khiến cho bản nhạc trở nên hoàn toàn mơ hồ và dường như không thuộc về một nốt nhạc nào. Nếu thấy điều này khó hiểu, các em nên thử nghe nhạc của các soạn giả như Mozart, Vivaldi hay Beethoven, rồi sau đó nghe bản Concerto cho Piano của Schönberg (1942). Các em sẽ thấy là rất khó có thể huýt sáo theo bản concerto đó. Ngoài ra em cũng nên tìm hiểu thêm các tác phẩm của Anton Webern hoặc Alban Berg.


--------------------
*: Dirty notes được dùng theo lối chơi chữ, để trong nháy, không phải là một thuật ngữ của âm nhạc, nên tôi dịch thoát ý. Có thể tham khảo bài phỏng vấn một ban nhạc lấy tên The Dirty Notes ở đây.

**: Chữ này còn được dịch là vô điệu tính hoặc vô điệu thức. Tham khảo ở đây và ở đây. Nếu thích, cũng có thể dịch là vô chiêu thức, tham khảo ở đây
[ ... ]

Adorno (4)

Adorno và sự phân biệt giữa văn hóa đại chúng [mass culture] và văn hóa đỉnh cao [authentic culture - có thể hiểu là văn hóa thuần chất, chuẩn mực, tinh hoa; trong bài, tác giả dùng các chữ authentic, great, genuine và high culture với cùng một nghĩa như vầy]

Watson: Tôi hy vọng bạn sẽ tha lỗi cho sự khiếm nhã của tôi, Holmes, nhưng nếu chúng ta cởi bỏ Marx và phân tâm học, tôi tin là tôi nghe thấy tiếng dội của Arnold và Leavis ở đây.

Holmes: Đúng vậy, nhưng hãy nhìn cụ thể hơn chút nhé. Giống như Arnold hay Leavis, tư tưởng của Adorno cũng dựa trên sự phân biệt giữa văn hóa đỉnh cao và các dạng văn hóa cấp thấp [inferior]. Tuy nhiên, như tôi đã nói, có sự khác nhau rõ ràng về mặt chính trị ở đằng sau sự phân biệt này.

Watson: Vậy, đối với Adorno, cái gì phân biệt giữa văn hóa đỉnh cao với văn hóa đại chúng?

Holmes: Tại sao bạn không làm một ly nữa, tôi sẽ phác ra những điểm khác nhau đó cho bạn thấy (Watson làm theo, quay lại và rít tẩu thuốc trong khi chờ Holmes). Đây (Holmes đưa tờ giấy cho Watson), hãy xem cái này. Rút ra từ bài essay của Adorno 'Về âm nhạc bình dân' [On Popular Music] (in lại trong cuốn sách của Storey, 1998), bảng bên dưới sẽ đối sánh những điểm khác biệt chính giữa văn hóa đỉnh cao và văn hóa đại chúng.

bấm vào hình để xem rõ hơn


 Điều mà Adorno nói ở đây đó là sự cắt giảm [nghệ thuật] phô diễn âm nhạc cho vừa vào những công thức khả đoán và tiêu chuẩn hóa đã tước quyền của cả nghệ sỹ và fans của jazz - họ khôngphô diễn bản thân một cách thuần thực theo một lối chơi đầy chất nghệ sỹ và tự do phóng khoáng.

Figure 3.3. Adorno, nền công nghiệp văn hóa và sự tước quyền
[ ... ]

12.10.12

Adorno (8.2)

Như hẹn, mục 8 được đưa lên trước vì có nhỏ kia chưa cần nghe giảng hết đã làm xong bài tập rồi. Học trò này rất lười đến lớp và luôn có 1 tỉ lí do, đặc biệt là thời tiết. Trong lúc đề bài yêu cầu lựa một thể loại cụ tỉ, thì hắn lại lựa cái ở giữa; và đặc biệt là trong lúc xe lửa đã dừng lại, thì y thị vẫn còn đương nghĩ. haizz.



for Đỗ Anh, to remember those days when we might be obsessed with Theodor W. Adorno

in between Circular Quay and West Ryde station
on a moving train
I have an idea to answer the question of where I indeed belong
in between
here and there
mom and dad
gay and les
Australia and Vietnam
shit
and joy
and misery
and fantasy
and blah blah blah
all happens in between
at least, in between
a quick drink and a quick piss
a quick suck and a quick fuck

I continuously have ideas of
THINGS
in between
1975 and 2012
mouth and anus
to be and was done
empowering and disempowered
castration anxiety and penis envy (*)
pleasurable principle and reality principle (**)
and of course,
in between
my dear friend
and
me

in between one Jazz album and another on iPod, I paused
on a moving brain
Sydney, 10. 2012
_________
(*) and (**): These four terms can be found in a number of Sigmund Freud’s works; for an example: Freud, Sigmund ([1917] 1973), Introductory Lectures on Psychoanalysis, Harmondsworth: Penguin.



Khoảng giữa
 
tặng Đỗ Anh, để nhớ những ngày tháng chúng ta có lẽ đã bị Theodor W. Adorno ám

ở giữa Circular Quay và ga West Ryde
trên một chiếc xe điện đang chạy
tôi nảy ra một ý để trả lời câu hỏi tôi thực sự thuộc về đâu
lưng chừng khoảng giữa
đây và đó
mẹ và ba
gay và les
Úc và Việt Nam

ố dzè
cứt
và niềm vui
và khổ sở
và ảo tưởng
và ti tỉ thứ khác
tất cả xảy ra ở khoảng giữa
ít nhất, ở khoảng giữa của
một thức uống nhanh và một lần đi đái gấp
một lần mút mát vội vã và một lần làm tình chóng vánh

tôi tiếp tục có những ý tưởng về
NHỮNG ĐIỀU
ở khoảng giữa
năm 1975 và 2012
miệng và hậu môn
sẽ và đã thực hiện
trao quyền và tước quyền
nỗi lo lắng bị thiến hoạnsự ganh tỵ với dương vật (*)
nguyên tắc khoái lạcnguyên tắc thực tế (**)
và tất nhiên,
giữa
bạn thân mến của tôi ơi
tôi ơi

ở giữa một album nhạc Jazz và một album khác trong iPod, tôi dừng lại
trong một bộ não chuyển động
Sydney, 10. 2012
___________
(*)(**): “castration anxiety”, “penis envy”, “pleasurable principle”“reality principle” là những khái niệm khá thông dụng, có thể tìm thấy trong những tác phẩm của Sigmund Freud, sách bàn về Sigmund Freud hay các sách phân tâm học nói chung. Ví dụ, bốn khái niệm trên có thể tìm thấy trong cùng một quyển sách: Freud, Sigmund ([1917] 1973), Introductory Lectures on Psychoanalysis, Harmondsworth: Penguin. Độc giả có thể tìm xem bài viết “Con cặc” của Nguyễn Hưng Quốc để hiểu thêm về “nỗi lo lắng bị thiến hoạn” và “sự ganh tỵ với dương vật”.
[ ... ]

Adorno (8.1)

Như tên gọi, Introducing Cultural Studies: Learning through practice, cuốn sách mà tôi đang dịch chương về Adorno, được viết theo dạng giáo trình: kết thúc mỗi phần nội dung là các bài tập, gợi ý, lưu ý. Dưới đây là bài tập số 1 của chương này. Lí do để nhảy cóc sang phần 8 này sẽ được lí giải ở phần 8.2.


Bài tập 1: Lý giải về nền công nghiệp văn hóa

Đề bài: [Em] hãy lựa một thể loại văn hóa bình dân (có thể chọn từ âm nhạc, truyền hình, điện ảnh, video games, tạp chí, báo in, tiểu thuyết) và áp dụng quy trình phân tích của Adorno. Tôi khuyên [các em] chọn cái gì đó mà mình thích (lí do là để còn làm bài tập tiếp theo nữa). Gợi ý dưới đây sẽ giúp [các em] làm tốt bài tập này nhé.


Notes Thực hành: Hip-hop như là một sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa

Chúng ta sẽ xem xét tuyên ngôn của một dòng âm nhạc đương đại mà đang phổ cập rộng khắp hiện nay: hip-hop. Áp dụng những bước cơ bản trong phương pháp của Adorno, chúng ta sẽ diễn nghĩa hip-hop theo những ẩn dụ của nó. Tôi sẽ thử làm mẫu cho các em. Nhưng nói trước là tôi không hề ác cảm gì với hip-hop nhé: tôi sẽ đóng vai người biện hộ của Quỷ sứ [I am playing Devil's advocate]

1. Nhận diện bối cảnh văn hóa và nguồn gốc của hip-hop

Chúng ta nên đối chiếu hiện tượng hip-hop với bối cảnh của chủ nghĩa tư bản và nhận diện nó như là một sự mở rộng của của âm nhạc truyền thống Phi châu (khởi đi từ câu chuyện kể của các già làng [griots]) trở thành các thể loại âm nhạc Phi châu-lai-phương Tây như là spirituals, ragtime, the blues, jazz, rhythm and blues, soul, reggae và Jamaica DJ dances.

2. Nhấn mạnh đến tính chất công thức và tính khả đoán của nó:

Có thể nói rằng, bằng những hình thức cách tân [nhạc truyền thống châu Phi] gắn liền với tên tuổi của các DJ, nhạc công và ban nhạc như Clive Campell (còn được biết đến với tên Kool Herc), Grandmaster Flash và Afrika Bambaataa, thì hip-hop đã bị thương mại hóa, bất chấp cái tư tưởng kháng cự về mặt chính trị ban đầu của nó. Khi 'Rapper's Delight' [sự khoái trá của rapper] của Sugarhill Gang (1979) có số bán vượt mốc 500 ngàn bản, thì thôi rồi, hip-hop đã bị nhấn chìm trong nền công nghiệp văn hóa: cái lí do có tính nguyên tắc cho sự tồn tại của nó giờ đã trở thành cái để nhét đầy túi của các hãng băng đĩa. Nhớ lại, Ice Cube [nhạc sỹ, nhà sản xuất, rapper, diễn viên người Mỹ gốc Phi] từng chửi rằng "bọn ma cô thực sự chính là, đ.m. nó, các hãng thu âm". Có thể thấy, nếu các kỹ thuật như là vuốt/miết đĩa [scratching], xoay ngược [backspinning - các bạn DJ hay xài cách này để cho đĩa nhạc chạy ngược, kéo dài một khúc nhạc], lấy mẫu [sampling - lựa một khúc/đoạn có sẵn xài cho nhiều bài/đoạn khác nhau], búng tay [snapping - để làm nhịp hoặc các quãng nghỉ trước khi nhạc vào á], chèn âm thanh [dubbing], ghép đoạn [punch phrasing - xen một đoạn từ một bải nhạc vào một bài nhạc đang chạy] v.v.. đã từng là những đột phá của dòng nhạc này thì giờ chúng đã bị đồng hóa đến mức mà ta có thể gặp ở trong mọi sản phẩm từ những sáng tác của nhóm Public Enemy cho đến những tiết mục tham dự cuộc thi âm nhạc bị nhiều chỉ trích [much maligned] Eurovision.

3. Miêu tả những tác động về mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế và tâm lý của hip-hop (sử dụng những thứ vừa nói ở bài trước trên quan điểm của chủ nghĩa Marx và phân tâm học) [akak]

Tác động tâm lý: theo quan điểm này, hip-hop chỉ đáp ứng sự thỏa mãn và sự trốn chạy [escape - các bạn thân mến lưu ý từ này, mốt ta sẽ quay trở lại] khỏi những stresses và những khó khăn của cuộc sống trong xã hội tư bản hiện tại, nhưng, mặc dù nó được coi là một kiểu nổi loạn, nó không tránh khỏi dẫn đến sự đầu hàng và sự tước quyền (hiệu ứng thiến hoạn) nơi người nghe. Các rappers (kể cả người nghe hay người chơi) có thể tham gia vào trò chơi như những kẻ nổi loạn, nhưng, rốt cục, chỉ là những kẻ phục tùng bị tước quyền.

Tác động kinh tế: chính sự hứa hẹn [một sự nổi loạn] liên tục, rồi sự đầu hàng trong thỏa mãn, cộng với lời mời gọi của thời trang hip-hop đã giúp duy trì dòng phân phối ào ào [của sản phẩm hip-hop] và nuôi dưỡng nền công nghiệp văn hóa và những kẻ đầu cơ đằng sau nó.

Tác động về tư tưởng: rap làm nghèo [bài trước dịch là bần cùng hóa] người tiêu dùng về mặt tri thức và tình cảm, và khuyến khích các fans của nó, thông qua việc tiêu thụ thường xuyên, chấp nhận và thỏa hiệp với sự sắp đặt của hệ thống chính trị xã hội hiện thời.

Tác động về chính trị: nó củng cố sự bất bình đẳng của chủ nghĩa tư bản, xoa dịu người tiêu dùng và trao cho họ một sự bất lực về mặt chính trị. 

4. Cuối cùng, hãy đặt câu hỏi về cái thể loại của văn hóa bình dân mà em chọn [ở đây là hip-hop] có thể liên quan như thế nào đến sự lớn mạnh của các chế độ độc tài toàn trị [totalitarianism] và các hình thức nguy hiểm của lý tính [bình tĩnh, phần 4 trong serie này sẽ giải thích ý này].

Có thể nói rằng, hip-hop, với tư cách một dòng nhạc bị thương mại hóa cao độ, đã đạt đến cái gọi là 'một sự độc tài về âm nhạc' đối với công chúng, theo cách mà nó "gợi nhớ sự soán ngôi của kỹ thuật khi nó được đặt dưới sự kiểm soát toàn trị phản lý tính [irrational] cho dù bản chất của nó là lý tính" (Adorno, 1991: 125-6) [trong bản gốc Adorno vẫn đang nói về jazz, nhưng tác giả cuốn sách này mượn lời ổng để nói về hip-hop]. Các fans của Rap một cách vô ý thức bị biến thành đối tượng của những kỹ thuật thao túng [manipulate] nguy hiểm được dùng để chi phối đám đông. 

Đến giờ, các em có thể nhận thấy một số quan điểm có thể hiểu được và/hoặc các em phản đối chúng. Nếu các em phản đối, tôi hy vọng các em sẽ nói rõ lý do vì sao lại không đồng ý với nhận định rằng tất cả các loại thể của văn hóa bình dân đều bị gán nhãn theo cùng một cách giống nhau như thế. Nếu các em không phải là fans của hip-hop, các em có thể liên hệ đến những quan điểm tương tự về một thể loại nào đó [ngoài hip-hop] mà mình thích. Rồi các em sẽ phản biện lại như thế nào? Lưu ý các em là mặc dù có thể có rất nhiều tranh luận mâu thuẫn với cách nhìn nhận này, nhưng không có nghĩa là những tư tưởng này không có giá trị - vấn đề là chúng ta rèn khả năng lập ý và phân tích chúng với sự mở rộng bàn luận, đưa ra các chứng cứ hay là sự biện giải đúng đắn.

[Rồi, làm bài đi nhen]
[ ... ]

6.10.12

Adorno (3)

Update phần 2:

- Do Figure 3.1 nằm ở trang sau, nên tôi đã dịch tiếp xuống phía dưới, mà bỏ sót mất mấy dòng ở trang trước đó, đã bổ sung. 

- Sau khi check lại văn bản tiếng Việt dịch Freud tôi cũng đã sửa lại Figure 3.1 và dịch lại hai khái niệm là 'a castration symbolism'  (sự thiến biểu tượng) và 'a regressive moment'  (thời khắc thoái triển - có tài liệu dịch là thoái lùi).  Adorno đã mượn các thuật ngữ này của Freud khi nói về nhạc jazz. Phần 3 này sẽ giải thích rõ hơn. Xin lỗi bạn đọc vì sự thiếu chính xác ở bài trước. Hy vọng phần này có thể giải đáp thắc mắc của hai còm sỹ Titi và Jazzy.

- Những chữ in đậm, in nghiêng và trong ( ) là theo bản gốc. Những chữ để trong [ ] là do người dịch thêm vào.


Adorno, Freud và sự thiến hoạn của công chúng (the castration of audience)

Watson: Tất cả những điều này nghĩa là gì? Cái gì mà 'sự tái sản xuất bằng máy móc một thời khắc thoái triển' và 'sự thiến biểu tượng'? Có phải Adorno đang nói đến Freud?

Holmes: Xuất sắc đấy, bạn thân mến. Điều làm cho những luận điểm này trở nên khó hiểu đối với những người chưa đọc Sigmund Freud là ở cách [mà ông ấy] diễn nghĩa văn hóa từ sự pha trộn chủ nghĩa Marx và phân tâm học. Một cách thú vị, trong khi bài luận rõ ràng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, Adorno chưa bao giờ thực sự trích dẫn Marx. Việc trình bày của tôi ở đây (nhằm mục đích làm rõ Adorno liên quan đến Marx như thế nào) nghe có vẻ như 'thuyết giảng' còn thì trong tác phẩm của Adorno ổng tiếp thu từ Marx và Engels nhưng dường như không thấy cần phải thể hiện sự tín của mình [đối với Marx] bằng việc trích dẫn nguồn rõ ràng.

Watson: (kiên nhẫn một cách lịch sự) Được rồi, ổng rút ra từ Marx và Freud, nhưng ổng muốn nói cái quái gì khi viết 'mục đích của jazz là sự tái sản xuất bằng máy móc một thời khắc thoái triển, một sự thiến biểu tượng'?

Holmes: Bình tĩnh nào bạn Watson. Nói một cách khái lược, Freud cho rằng trong thời thơ ấu, tâm hồn [psyche] của con người đi qua các giai đoạn phát triển, tức là miệng, hậu môn và bộ phận sinh dục. Để trở thành người lớn, mỗi người phải học cách bú mớm [suck] và điều khiển chức năng của hậu môn và bộ phận sinh dục. Freud nói, trẻ sơ sinh học cách hấp thu dưỡng chất từ việc tu ti mẹ (tạm thời bỏ qua những trường hợp trẻ em không được tu ti). Giai đoạn bú (quan hệ giữa miệng và ti) theo Freud là một giai đoạn điển hình của sự làm đầy [fulfillment], khi mẹ và bé không tách rời trong ý thức sơ khởi của trẻ. Ngoài ra, bú mớm không chỉ là vấn đề sinh dưỡng, bé còn bú mà không uống sữa - đơn giản vì nó mang lại khoái cảm. Từ đó mà ông [Freud] nói về tính dục ấu thơ (Freud, [1917] 1973: 355).

Watson: Ô dzìa, tôi nhớ rồi. Hồi đó Freud đã gây ra xì căng đan trong giới học thuật đạo mạo [polite circles].

Holmes: (không để ý lời Watson nói) hãy hình dung tình huống sau đây. Những tháng đầu tiên trong cuộc đời bạn được định hình bằng hành động tu ti, điểm quan trọng nhất á, rồi tiêu hóa sữa và thải ra cho tới một ngày bạn phải học uống bình. Cho tới giờ, cuộc sống của chúng ta bị chi phối bởi cái mà Freud gọi là 'nguyên tắc khoái lạc' [pleasurable principle]. Nó được khởi đầu từ khoái cảm với ti mẹ, một ký hiệu đầu tiên mà đứa trẻ chưa kiểm soát thế giới xung quanh nó và cái 'hiện thực' [của việc tu ti] khiến bản thân nó nhận biết. Bạn bắt đầu lớn và bắt đầu học ngôn ngữ. Một ngày bạn đang chuẩn bị làm cái việc một cách rất là tự nhiên trong tã lót của bạn [í là ị đấy] và rồi....'Này - DỪNG LẠI NGAY!'. Bạn ngước lên một cách kinh ngạc, trên gương mặt lộ vẻ ngơ ngắc rằng 'tại-sao-tôi-không-thể-tiếp-tục-cái-việc-tôi-vẫn-thường-làm? Giờ thì bạn đã ở trong một thế giới của luật lệ, quy tắc và những điều cấm kỵ. Bạn phải thành thạo với việc điều khiển cái ruột và cái cơ hậu môn của mình. Kế đến, nếu trước đây mọi người sờ mó cưng nựng bất cứ chỗ nào trên người bạn, thì bây giờ bộ phận sinh dục trở thành vùng cấm - bạn không thể để cho ai kích thích nó một cách công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Thế đó, từ lúc này mọi thứ đều cần sự kiểm soát và trách nhiệm - và những tự do thời sơ sinh không còn. Bạn giờ đã trở thành đối tượng của cái Freud gọi là 'nguyên tắc hiện thực' [reality principle].

Watson: (bắt đầu nghi ngờ) Thế nhưng tất cả những thứ này thì liên quan gì tới việc Adorno nhìn nhận về nhạc jazz?

Holmes: Đừng lo lắng, bạn Watson thân mến, tất cả sẽ được giải trình. Freud cho rằng, những người trưởng thành phải đối mặt với áp lực, trách nhiệm và stress trong cuộc sống có xu hướng thoái lùi [regress] về giai đoạn đầu đời (như là giai đoạn bú mớm bằng miệng) khi mà họ có thể hồi tưởng cái khoái cảm lý tưởng của việc được chăm dưỡng, được bảo vệ và được ấm áp trong vòng tay của mẹ. Nhạc jazz, theo Adorno, cũng có cái mục tiêu thoái lùi trở lại thời kỳ ấu thơ khi nó xoa dịu vỗ về thính giả giống như là vú mẹ đối với bé bi. Nguyên tắc hiện thực được thay thế bởi nguyên tắc khoái cảm. Đây là cách mà tác phẩm của Adorno liên quan đến phân tâm học. Nhưng Watson, tôi phải lưu ý bạn rằng, tôi đã đơn giản hóa tư tưởng của Freud và bỏ qua một cách có cân nhắc cái phức cảm Oedipe. Điều này rõ ràng là bởi vì Adorno đã không dựa vào đó - ông quan tâm đến việc phân tâm học có thể giúp cách đọc hiểu mang tính chính trị về văn hóa.

Watson: (ngả lưng vào ghế) Đống ý, nhưng thế còn cái vụ thiến hoạn thì sao?

Holmes: Rất đơn giản, Adorno rút ra từ ý tưởng của Freud rằng một số chừng bệnh hoang tưởng ở nam giới là dựa trên nỗi sợ bị mất cơ quan sinh dục (nói ngắn gọn là bị cắt)*. Cái biểu tượng này biểu trưng cho sức mạnh nam giới và anh ta sợ bị mất tính nam.

Watson: Vậy thì phụ nữ miễn nhiễm cái bệnh này rồi!

Holmes: Không hề chứ. Nếu đàn ông chịu đựng nỗi sợ thiến, thì phụ nữ bị cái ám ảnh mà Freud gọi là 'sự ganh tị với dương vật' [penis envy] ** (Freud [1917] 1973: 360f) - một khái niệm mà các nhà phê bình nữ quyền tất nhiên là không thích thú gì. Nhưng tôi thì tiêu hóa được. Đố với Adorno, trở thành một fan của nhạc jazz (dù bạn là nam hay nữ) giống như bạn bước vào một hội nhóm không chỉ chia sẻ cái thứ âm nhạc đã bị hạ cấp [degraded music] mà còn san sớt với nhau một cảm giác bất lực: bạn gia nhập 'một cộng đồng mất tự do như nhau'. Nhạc Jazz, trong cái đơn điệu có thể đoán được của nó, trở thành một thứ thuốc phiện, và những fans hâm mộ cuồng nhiệt của nó trở nên quen với cái thứ 'nhãi dớt' [drivel] mà họ được nuôi dưỡng [feed] và không thể từ bỏ (Adorno, 1990: 126). Nói ngắn gọn, các nhạc sỹ và fan hâm mộ bị làm cho suy yếu - bị thiến.


Marx và Freud liên hiệp lại

Watson: (cảm thấy hơi khó chịu) Nhưng tôi luôn tin rằng rất nhiều nghệ sỹ nhạc jazz và một phần khán giả không nằm trong số đó [số bị thiến]. Tôi thực sự xem họ như là những người có máu nổi loạn!

Holmes: Adorno đã nhận ra rằng jazz đã triệt thoái từ một loại hình âm nhạc có tính nổi loạn như những bài hát của người nô lệ châu Phi, nhưng ông biện luận rằng 'không hề ngẫu nhiên, tất cả những gì là phóng túng của jazz lúc ban đầu đã nhập vào một khuôn khổ khô cứng, và những giai điệu nổi loạn của nó cũng đi liền với xu hướng phục tùng một cách mù quáng' (Adorno, 1990: 122). Cái mà Adorno muốn nói ở đây là để là một phần tử jazz nổi loạn thì tất yếu phải là một kẻ tuân phục hoàn toàn. Người yêu jazz là nạn nhân: một người tiêu dùng bắt buộc tiêu thụ những thứ giống nhau được che đậy bằng hình thức thời trang hàng loạt. Cái hệ quả của sự thiến hoạn đeo theo những thách thức tiềm tàng mà jazz có thể ảnh hưởng tới xã hội. Mọi lực lượng có khuynh hướng phân rã [asocial forces - ý nói những lực lượng phản kháng, ly khai xã hội], qua quá trình tiêu chuẩn hóa lối tiếp cận kiểu băng chuyền [conveyor-belt] đối với âm nhạc, đều trở nên bị ru ngủ [charmed away].


[Trong phần này có Figure 3.2, về cơ bản là Holmes vẽ tóm lược các ý đã giải thích với Watson, tôi viết lại như dưới đây thay vì làm sơ đồ như trong sách]

Với động cơ lợi nhuận

Nền công nghiệp văn hóa tạo ra văn hóa bình dân đại chúng

Sản xuất những sản phẩm có thể dự đoán và theo công thức (âm nhạc, tiểu thuyết, phim ảnh v.v...)

Tác động về tư tưởng: văn hóa bình dân không dẫn đến nổi loạn hay ly khai mà [ngược lại] xoa dịu quần chúng và khuyến khích họ học thích ứng với hoàn cảnh sống tệ hại của mình.

Đám đông bị khai thác (người tiêu dùng) được xem là những nạn nhân của việc giải-chính trị hóa và bị bần cùng hóa về mặt vật chất, về tri thức và về tình cảm. 


Figure 3.2 Rút ra từ nghiên cứu của Adorno, đây là quan điểm của trường Frankfurt cổ điển về các hình thức văn hóa đại chúng.


* và **: xin xem Con cặc của Nguyễn Hưng Quốc
[ ... ]

29.9.12

Adorno (2)

Adorno và nền công nghiệp văn hóa



Watson: Vậy thì ban sẽ nói sao về đóng góp của Adorno đối với ngành nghiên cứu văn hóa, và bản thân ngành này đã tiến triển như thế nào?

Holmes: Tôi sẽ nói về việc ông ấy mô tả văn hóa bình dân đại chúng như là một sản phẩm của 'nền công nghiệp văn hóa'. Ổng cho rằng các sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa có thể xem là bất cứ cái gì được sản xuất hướng đến sự tiêu thụ hàng loạt (báo chí, phim ảnh, âm nhạc, TV v.v...).
Watson:(nhíu mày) Tại sao lại gọi đó là những sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa? Ổng làm như chúng được sản xuất ở trong nhà máy á!

Holmes: Cách ổng thể hiện sự quan sát của mình không tệ đâu bạn. Theo ổng thì, vì động cơ lợi nhuận, chủ nghĩa tư bản công nghiệp chỉ thuần túy sản xuất ra những dạng thức của văn hóa bình dân mang tính công thức và hoàn toàn có thể dự đoán, thực hiện chức năng xoa dịu quần chúng và khuyến khích họ thích nghi với 'điều kiện sống thấp kém' của họ. Hiệu quả của nó là làm cho họ tuân thủ hệ thống và chịu đựng những điều kiện ấy. Quần chúng không chỉ được trao tặng sự bất lực về mặt chính trị, mà còn bị bần cùng hóa về mặt kinh tế, vật chất và tri thức. Nói ngắn gọn, nó giải-chính trị hóa [depoliticized] nạn nhân của nó (Adorno, 1991:143f). Tôi đang nói tới cuốn Nền công nhiệp văn hóa [The Culture Industry], mặc dù những quan điểm này được phát triển trong rất nhiều tác phẩm của Adorno, kể cả công trình viết chung với Horkheimer, Biện chứng của Khai sáng [The Dialectic of Enlightment] (Adorno và Horkheimer, [1947]1972:125), ở đó, hai ông thảo luận về những gì họ nhìn nhận như là tính chất tầm thường và có thể dự đoán được của phim ảnh bình dân.

Watson: Nói thế này có đúng không, ông ấy cho rằng ngành giải trí được sản xuất bởi chủ nghĩa tư bản giống như là một hiểm họa?

Holmes: Tôi đồng ý với bạn. Cách phân tích văn hóa đại chúng [mass culture] của Adorno có thể được hình ảnh hóa như thế này này (Holmes vẽ nguyệch ngọac trên một mẩu giấy và đưa cho Watson - xem Figure 3.1 ở bên dưới).



Figure 3.1 Các bước cơ bản trong lập luận của Adorno chống lại những sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa [bấm vào hình để phóng lớn]



Trường Franfurt và âm nhạc bình dân: Marx và Freud, tất cả cùng jazz


Watson: (hơi cau mày)  Tôi nghĩ rằng tôi đang bắt đầu hiểu ý của Adorno, nhưng bạn có thể nêu một ví dụ cụ thể và chỉ ra sự liên hệ giữa tư tưởng của ông ấy với phương pháp được không?

Holmes: Đòi hỏi cao quá đấy, Watson! Được rồi, để biết những tư tưởng này đối chiếu với thực tế như thế nào, chúng ta cần phải xem lại bài essay của Adorno đầu thập niên 1960 tiêu đề là 'Thời trang vĩnh cửu - Nhạc Jazz' (Perennial Fashion - Jazz) (Adorno, 1990). Trong bài essay này, dựa trên những ý tưởng phát triển từ những năm 1930, Adorno đưa ra những tranh luận điển hình cho tư tưởng của ông chống lại nền công nghiệp văn hóa. Bạn có thể sẽ đánh giá cao những bước cơ bản trong phương pháp (ngụ ý) của ông ấy khi tôi trình bày một cách rất là giản lược như thế này (một lần nữa, Holmes lại vẽ và Watson, một cách chậm rãi, rót thêm rượu sherry vào ly cho mình. Holmes đưa bức vẽ cho Watson xem). [vẫn là Figure 3.1, câu cuối]

Holmes: (tiếp tục) Cái mà Adorno đang nói ở đây là sự tối giản việc trình diễn âm nhạc về những dạng thức theo tiêu chuẩn và có thể dự đoán đã tước quyền [disempower] của các nhạc sỹ jazz cũng như của người thưởng ngoạn - họ không còn thể hiện bản thân một cách thuần thực, theo một lối chơi nghệ sỹ đầy ngẫu hứng nữa (tuy nhiên, bạn nên đọc toàn bộ bài viết của Adorno* để hiểu hết những ý tưởng và tranh luận của ông ấy).


---------
*Adorno, Theodor W. (1990), Prisms, Cambridge, MA: MIT

[ ... ]

27.9.12

Adorno (1)

Trích dịch từ cuốn 'Introducion to Cultural Studies: Learning through practice' của David Walton, 2008, London, Sage. Bài này gồm có 7 đoạn phỏng vấn. Bạn đọc có quan tâm khoan hãy copy vì có thể tôi sẽ edit lại sau khi dịch xong toàn bộ (cách này nghe quen quen ^^). 

Adorno và Trường Frankfurt

Sau cái chết của Ngài Arthur Conan Doyle, Sherlock Holmes và Dr Watson được hưởng một chút tự do làm những việc khác ngoài chuyện trinh thám. Watson đang ngồi thư giãn trên chiếc ghế bành đệm da êm ái, trong căn nhà số 221B đường Baker, nhâm nhi một ly rượu sherry và lắng nghe Holmes chơi đàn vĩ cầm. Watson gần đây quan tâm đến nghiên cứu văn hóa (cultural studies)và hỏi người bạn, cũng là thầy của mình, về những tư tưởng của Trường Frankfurt. Holmes, tất nhiên là một chuyên gia về lĩnh vực này (đã từng dạy Watson về Arnold và về gia đình nhà Leavis), kết thúc bản nhạc ông đang chơi. Ông ngậm cái tẩu trên môi, lấy ghế ngồi xuống đối diện với Watson. Dưới đây là gỡ băng cuộc hội thoại của họ.

Watson: Nào, Holmes thân mến. hãy nói về Trường Frankfurt danh tiếng. Tôi đồ rằng, bạn sẽ nói đó là một trường phái học thuật khá sơ đẳng?

Holmes: Xin lỗi làm bạn thất vọng, nhưng hoàn toàn ngược lại, tư tưởng của họ khá là phức tạp đấy. Do vậy, tôi sẽ không giới thiệu với bạn tất cả những học giả của Trường Frankfurt mà chỉ đề cập đến hai thành viên chính - Max Horkheimer và Theordor Adorno, đặc biệt là Adorno. Như bạn biết đấy, họ là những thành viên chủ chốt của Trường - tập hợp của một nhóm những học giả Do Thái, những người sáng lập ra Viện Nghiên cứu Xã hội (Institute for Social Research)ở Đại học Frankfurt (sau này được biết đến như là Trường Frankfurt về Lý thuyết phê phán - Frankfurt School of Critical Theory).

Watson: (ngắt lời một cách lịch sự) Nhưng trước khi bạn tiếp tục, hãy nói tôi biết về hoàn cảnh lịch sử mà họ phát triển tư tưởng của mình.  

Holmes: Hoàn toàn giống với nhà Leavis: họ bắt đầu có ảnh hưởng trong hoàn cảnh khó khăn giữa hai cuộc Thế chiến  thập niên 1920s và 1930s. Những thành viên của Trường sống sót sau Thế chiến Thứ hai tiếp tục nghiên cứu và viết.  

Watson: Tại sao cái bối cảnh lịch sử đó lại rất quan trọng?  

Holmes: Bạn nên hiểu là bối cảnh lịch sử không chỉ quan trọng đối với cách phê phán mà họ thực hiện mà còn đối với nơi mà họ phát biểu phê phán đó. Sự lên ngôi của Hitler và Đức Quốc xã những năm 1930s đã đẩy họ khỏi nước Đức và Trường đã chuyển đến Đại học Columbia ở New York. Chuyện này xảy ra năm 1933, nhưng đến năm 1949 thì Viện lại tái thành lập ở Frankfurt. Như bạn biết sau này, sự thống trị và phi nhân bản của Phát xít đã tác động đến tư tưởng của họ, và việc gia nhập vào xã hội Mỹ đưa họ tham dự vào những dạng thức của văn hóa bình dân[1](popular culture) - cái mà một lần nữa để lại ấn tượng mạnh mẽ, cho dù họ nhận ra nó có tính vận động, tầm thường và có hại.

Watson: Bạn làm tôi tò mò! Nhưng trước khi chúng ta tiếp tục, tôi muốn biết những học giả còn lại của Trường Frankfurt là những ai?

Holmes: Ngoài Adorno và Horkheimer, còn có các nhà phê bình như Leo Löwenthal, Walter Benjamin và Herbert Marcuse.

Watson: Thế còn nhà lý thuyết đương đại Jügen Habermas cũng theo trường phái của Trường Frankfurt phải không?

Holmes: Đúng vậy! Khá lắm, Watson!  

Watson: Vậy điều gì liên kết những nhà phê bình này và tại sao họ lai quan trọng đối với ngành nghiên cứu văn hóa?  

Holmes: Điều đầu tiên chúng ta nên nhớ đó là những học giả khác nhau không thể quy về một lối tiếp cận duy nhất. Ví dụ Benjamin là một trường hợp đặc biệt thú vị. Tuy nhiên, họ đã quy tụ lại với niềm tin, và sự cam kết, đối với chủ nghĩa Marx. Họ là những cái tên quan trọng một phần vì họ xây dựng hệ thống thuật ngữ mà thông qua đó văn hóa bình dân có thể được thảo luận (và thường là bị phản đối và bị phủ nhận) bởi các nhà phê bình cánh tả. Một trong số những điều mà tôi muốn bạn lưu ý đó là một số tư tưởng gắn với Trường Frankfurt có liên quan (hoặc khác biệt) như thế nào với những giá trị và giả thuyết mà tiếp cận của nhà Leavis đã phát hiện. Nhưng bây giờ tôi sẽ nói về Adorno trước đã.

-----------------------

[1] Tạm dịch là 'bình dân' vì chữ ‘popular’ không hoàn toàn trùng với ‘mass’ - 'đại chúng'; trong nhiều văn bản, nguyên cụm ‘mass popular culture’ được dùng khá thường xuyên.
[ ... ]

26.9.12

Yassou Maria

First off she's a lady
This is a lady's world
Man, she drives me crazy
Dancing like a chiki girl


Chuyện có thật. Maria là người Greek, một trong số hiếm hoi những nhân vật nữ không đẹp lắm mà tôi từng kể. Chúng tôi sống cùng một quận ở ngoại ô Sydney. Nơi này tập trung nhiều nhất là người Hi Lạp, rồi tới Đại Hàn, Nepal và rải rác người Việt.

Con đường tới sở làm của tôi dài gấp đôi quãng đường Maria đi. Tôi phải bắt xe buýt từ nhà tới Strathfield và bắt xe lửa từ đó tới Epping, cuối cùng là một chuyến buýt ngắn nữa để đến chỗ làm. Nửa năm đầu nhận việc làm mới, rơi đúng vào mùa đông, tôi phải trực tin từ 6h30 sáng. Tôi sẽ ra khỏi nhà lúc 4h55 và lên chuyến xe đầu tiên trong ngày lúc 5h05. Cả khu phố trung tâm quận chỉ mới có duy nhất tiệm bán báo kèm lôtô cùng văn phòng phẩm là mở cửa giờ đó. Xe buýt đậu ngay trước cửa tiệm. Một chiếc xe tải đêm dừng xịch, bác tài xế râu tóc xồm xoàm bước xuống, bước vào và bước ra trong vòng một phút, tay cầm theo tờ báo. Bác là người mở hàng. Bà chủ tiệm người Việt gốc Hoa sẽ quay vào thắp mấy ngọn nến ở góc quầy, xung quanh có những món đồ nho nhỏ, bọc giấy bóng kính màu đỏ, gói kín. Người ở xứ này khó lòng mà biết bà vẫn xài bùa lá bang để quấn khách. Người nào cao tay lắm mới dám xài đến loại bùa này, vì chỉ cần thao tác sai công đoạn, tức thì bị 'quật' lại. Vờ như không nhìn thấy bà chủ đang lầm rầm khấn vái, tôi lựa tới lui ở tủ kẹo và lấy một hộp Eclipse bạc hà để ngậm cho thơm miệng và giữ ấm khoang mũi. Tôi tự tin nói chuyện dăm câu với người ngồi cùng ghế trên xe và thở ra mấy hơi, chia sẻ cơn lạnh.

Maria sẽ bước lên ở trạm dừng thứ hai tính từ khúc này. Cái dáng mập mạp và bước đi nghiêng nghiêng của cô không lẫn vào đâu được trong nhập nhoạng ánh đèn đường. Chúng tôi cười chào nhau vì đã quen mặt. Maria rất ham đọc, cô đọc bất kể lúc nào tôi gặp trên xe. Trước đây, cô luôn cầm theo một cuốn sách, còn bây giờ là chiếc Kindle Fire, bự gấp đôi cái của tôi.

Nhân một ngày đặc biệt, ví dụ như đội Bulldogs - đội bóng đóng quân ở ngay quận của tôi, toàn bộ dân ở đây từ già trẻ lớn bé đều là fans của họ - vừa giành chiến thắng ở giải NRL, tôi sẽ đổi chỗ đến ngồi gần Maria bắt chuyện. Lần đầu tiên tôi đã đoán ngay ra Maria làm việc gì đó liên quan đến sách. Cô là thủ thư ở một trường cao đẳng tư thục ở Strathfield. Mỗi ngày, cô phải có mặt từ sớm để sẵn sàng mọi thứ cho sinh viên tới đọc và mượn sách từ 7 giờ. Thực ra, Maria có thể tới trước 30 phút. Nhưng cô tâm sự với tôi, cô thích nhất chứng kiến bình minh của mỗi ngày, đặc biệt là mùa đông, khi chiếc xe vừa dừng ở trạm cuối cũng là lúc những vệt sáng đầu tiên le lói, hắt xiên từ nóc tòa nhà thương mại Strathfield.

Gần hết một tháng, tôi đã có thể hỏi tuổi của Maria. Cô cùng tuổi với tôi và còn độc thân. Ở tuổi này, phụ nữ da trắng đã trở nên xồ xề, Maria không phải ngoại lệ. Nhưng vì chưa lập gia đình, Maria không có vẻ toan tính trên khuôn mặt. Mỗi lần cô tháo cặp kính tròn gọng lớn ra, mỉm cười chào tôi, có thể hình dung thời trẻ cô khá đẹp. Đặc biệt, Maria chỉ bận một màu duy nhất: màu đen. Trong một trăm ngày tôi gặp, cô chỉ mang áo khoác ngoài màu đen, áo sơ mi đen và quần âu, tất cả một màu đen, giày và tóc đều đen, chỉ có da là trắng tinh tươm, mà tôi dám chắc những người hơi mập như vậy hẳn là rất mát. Tôi thuộc loại da nóng, tay lúc nào cũng ấm, bất kể trời lạnh tới độ nào. Đó cũng là một hãnh diện nho nhỏ của tôi đối với người có cơ hội chung giường. Nhưng đổi lại, tôi thích một làn da mát mẻ, nhất là hơi đầy đặn. Maria có vẻ vượt quá tiêu chuẩn này, vì một lí do đơn giản, cô có tật ở chân, nên không có cơ hội tập gym như những phụ nữ khác. Vả lại tôi thấy những người ham đọc sách thường là mập, cái này bù qua cái kia. Một lần, khi đứng dậy chuẩn bị xuống xe, tôi cố ý nhân lúc bác tài thắng lại, khẽ chạm vào tay Maria. Mát lịm.

Chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiết, mặc dù hết ba tháng mùa đông chỉ gặp nhau 5 ngày trên xe, một chặng đường chừng 30-40 phút. Những gì tôi vừa kể là tất cả thông tin tôi biết về Maria. Cô cũng vậy. Mỗi lần chào nhau xong, Maria đều hỏi thăm Bully, con chó nhỏ của tôi, có khỏe không. Còn tôi không biết hỏi gì vì Maria sống một mình, không chó.

Thi thoảng, Maria dặn tôi sáng ngày sau đừng ăn gì, cô sẽ chuẩn bị cho tôi. Lần nào cũng vậy, cô chỉ có một món duy nhất: bánh kebab kẹp thịt xay, hành tây, cà chua và phó mát. Thực lòng tôi thích cái vỏ bánh hơn là nhân. Tôi hay bị phản ứng với cà chua, tôi không thích cả bánh pizza nhân cà. Nó làm cho dịch vị tiết ra quá nhanh, cái lưỡi lập tức rụt lại mà mỗi lần cắn vô miếng bánh tôi đều có một phản ứng như vậy. Maria nói đó là do tôi hút thuốc lá nhiều quá. Tương tự, tôi cũng chúa ghét olive, nhưng vì chiều lòng Maria, tôi không nói ra. Cho dù có ăn bánh Greek quanh năm, tôi cũng không thích nổi cái mùi hôi hôi của nó.

Chúng tôi ăn bánh cùng nhau trên xe. Hành khách khác, thực ra đều là những người đi làm cùng một giờ đã quá quen mặt nhau, cũng không lấy gì làm lạ. Hôm nào Maria làm bánh, tôi sẽ chuẩn bị trái cây và nước ngọt. Sau đó Maria lại chúi mũi vào đọc sách, còn tôi mở máy tính kiểm tra những việc cần phải làm trong ngày. Đôi khi, Maria ngẩng lên hỏi tôi đã đi qua nhà thờ Belfield chưa. Đó là một ngôi nhà thờ nhỏ, lối đi vào có cái cổng sắt thấp lè tè ngang hông. Phía trước nhà thờ là một khu nghĩa địa, những ngôi mộ đã rất cũ, mà tôi chỉ có thể nhìn thấy vào buổi chiều, trên đường đi về. Lượt đi, tôi chỉ kịp nhận ra cây thánh giá cao chót vót trên nóc nhà thờ lướt qua cửa kính xe, trên nền trời nhờ nhờ xám tối. Tôi nói, vừa qua rồi. Maria cất Kindle vào chiếc cặp da cũng màu đen, lấy chiếc lược nhỏ chải lại tóc, chỉ còn 5 phút là xuống bến. Thấy tôi vẫn đang nhìn, cô quay ra mỉm cười, chúc một ngày làm việc tốt lành. Cô có một nụ cười tự nhiên và nhẹ nhàng. Dường như Maria biết chắc rằng không có gã đàn ông nào nhận ra được sự đáng yêu của cô. Và cô hài lòng vì điều đó.

Mỗi ngày qua đi và lặp lại một cách không nhàm chán. Tôi có nhiều chuyện liên quan đến công việc để kể cho Maria và hỏi cô về những cuốn sách. Như những người bạn lịch thiệp, văn minh, chúng tôi không bao giờ nhắc tên bất cứ người thứ ba nào hay bình phẩm về bất kỳ ai. Cho đến một hôm, tôi tính sẽ mời cô dùng bữa tối vào chiều cuối tuần.

Thứ 6, ngày 13 tháng 7 năm 2012.

Như thường lệ, tôi lại chờ đến trạm dừng thứ hai. Nhưng điều bất thường đã xảy đến: không có Maria bước lên. Bụng tôi bắt đầu sôi ùng ục. Hôm nay, Maria hứa mang bữa sáng cho tôi. Cơn đói làm cho sự lo lắng càng thêm cồn cào. Không lẽ Maria bệnh rồi? Hay là cô ngủ quên? Không thể nào, một người nề nếp và nghiêm túc như Maria hẳn sẽ không sai hẹn. Ít ra cô cũng phải nhắn cho tôi nếu có chuyện đột xuất. Tôi quyết định gọi Maria, tôi không sợ làm phiền, vì việc này nhân danh sự quan tâm. Không có tín hiệu. Gọi lần hai, lần ba không được. Tôi nhắn tin vào máy Maria, dặn goi lại ngay khi cô mở máy.

Chiếc xe đi qua Punchbowl Road. Tôi gõ password để mở điện thoại, rồi lại tắt đi, rồi lại mở, lại tắt, không thể tập trung để làm gì khác. Trên xe tất cả mọi người đều im lặng. Anh chàng thợ làm đường áo quần đồng phục còn lấm đất gục đầu lên thành ghế trước ngủ ngon lành, tiếng gáy đều đều theo nhịp xe chạy. Bên kia đường, những rặng cây ngả nghiêng vì gió lạnh, vun vút lướt qua, chia khoảng không gian ngoài cửa kính thành từng khúc đen trắng. Xe chạy tới đâu đèn đường tắt dần tới đó, trong khi bình minh còn chưa kịp ló dạng.

Tôi đang theo đuổi những suy nghĩ về khả năng nào có thể xảy ra với Maria, bất chợt, chiếc xe thắng gấp, bác tài buột miệng chửi một tiếng: shit. Tất cả mọi người hơi đổ nhào về phía trước, ngơ ngác xem chuyện gì xảy ra: đèn đỏ, có người băng qua đường, hay thậm chí là một chú sóc? Không phải. Cửa mở. Có khách lên. Hẳn là người này đã không vẫy bác tài sớm hơn. Một cơn gió lạnh toát ùa vào, ngay lập tức xua tan hơi ấm máy sưởi trong xe, khiến ai nấy đều rùng mình. Nhưng tôi thì rùng mình hơn cả: bước lên là Maria. Cô tóm vào tay vịn như mọi khi, nhấc từng chân lên một. Maria mỉm cười, vừa xin lỗi vừa cảm ơn bác tài và nhanh chóng cà thẻ, trở về chỗ ngồi. Biết cô có tật, bác tài chờ Maria ngồi xuống mới nổ máy cho xe chạy tiếp.

Tôi ngước lên nhìn cô, khẽ cười. Khó trách được Maria. Dù sao chúng tôi mới chỉ là bạn bè quen biết. Và dường như có một nguyên tắc bất di bất dịch trong quan hệ của chúng tôi: không bao giờ to tiếng, không bao giờ giận dỗi, không bao giờ xét hỏi. Nhưng ngay lập tức, tôi tắt nụ cười. Maria đầu tóc rối bời, trên đỉnh đầu còn vương một hai chiếc lá đã úa vàng, nhìn giống như lá thông. Một vết xước nhỏ ở tay trái, một vết rách trên áo nơi khuỷu tay và vài vết đất lấm ở đầu gối.

Trong khi tôi có hàng loạt câu hỏi chưa biết phải hỏi câu nào trước, Maria vội vã nói xin lỗi, hỏi tôi đói lắm phải không và trong khi đó thì mở túi lấy ra chiếc bánh kebab kẹp thịt xay. Tôi gật đầu, vẫn không thốt nên lời, tôi chỉ vào đồng hồ đeo tay, ngụ ý giờ này đã phải ăn sáng xong như một thói quen, nên chậm một chút là cái dạ dày kêu réo. Tôi giật mình khi nhìn vào chiếc đồng hồ: còn đúng 5 phút nữa là xe tới bến Strathfield.

Cây thánh giá trên nóc nhà thờ vụt qua cửa kính, như lao thẳng vào mặt tôi. Bầy quạ đen nhao nhao bay lên, cùng lúc kêu quang quác vang một góc trời.

Maria vội vàng lấy bánh cho tôi, nó đã nguội ngắt. Cô biết điều đó, nên vừa xin lỗi vừa hấp tấp giải thích, đêm qua cô uống say nên ngủ lại nhà một người bà con nhân một ngày lễ nào đó của người Greek. Lần đầu tiên tôi thấy Maria trong tư thế ít kiểm soát bản thân nhất. Tôi vẫn im lặng không hỏi một câu nào. Cũng lần đầu tiên Maria có một cử chỉ thân mật: cô đưa tay quệt vết bánh dính trên mép tôi. Nhưng ngay lập tức, cô nhận ra mình tiếp tục mắc sai lầm: đó là bàn tay trái, một vết máu còn rỉ ra. Tôi thấy vị ngọt ngọt nơi đầu lưỡi.
[ ... ]
8/3 adoption Arnold Matthew AussieBum autism ba láp babylift Barca bay Beauty Salon Beudrillard Bi black Black Friday Black Parade blog-social media Bob Gould body language bookseller boom boom Brenda Dervin bun sịt bupbe báochíchóe bóng bánh bún ốc bạn bố Camp-berra chim china chiến công chính trị chó chôm trên net Chúa chị chửi climate change codes of gender college closure Colombo Plan con gián con nít connector Copenhagen cross-cultural cultural studies cà chớn cànglúccàngbéo cànglúccànghâm cànglúccàngkul cànglúccàngsến cừu cựcnhảm development drugs dust storm dáo giục em Emo ending360 Facebook framing Froject Triangle gangs gardening ghen già Giáng Sinh gái Habermas having fun hhđ home HPI hugging Hà Nội hài kịch Indigo Japan quake Jessica jodi K46 không gái không nhãn không nhảm Kim Kim Edgar Kim Nguyen Kim Ngân Kỳ diệu Ladygaga latrine Lazarsfeld Lerner liênvănhóa lost for words Love Lê Tuyên lông lá lăn tăn lấy chồng McLuhan Melbourne migrant migration missing modernization myself môitrường mẹ nghèo ngoại Ngải Vị Vị nhạc nhạc nhẽo Nicole Kidman Nietzsche nàng Bân Oprah Oz Paul Petta phim phở phụ nữ Pink post secret public diplomacy Queen Queensland flood quảng cáo rock Ron Scollon rumor Rùa rảnh quá Saigon sense-making sex show hàng smart and sexy smoking social capital Spain stereotype stockholm Sunflowers sydney sông Hồng sịtni sống TED talk terror of knowing Thang Ngo thơ thơ Thủy Hử Tony truyền thông truyện trường cũ tumblr TV tình yêu tận thế Tết urbanisation videolearning Vietnam Vietnam war violet war what the fact World Cup final xe ôm XXmas ái kỷ Đà Nẵng đồng tính ẩm thật
 

©2009 GẤUxx | by TNB

Best Blogger TipsBest Blogger Tips